Viện Dinh dưỡng Quốc gia vừa có cuộc điều tra nghiên cứu trên toàn quốc về hội chứng rối loạn chuyển hóa trong cộng đồng. Kết quả cho thấy, thuốc mọc tóc thuốc cường dương có 26% người trưởng thành bị rối loạn mỡ máu. Đặc biệt, hội chứng này ở 2 thành phố lớn Hà Nội và TP.HCM chiếm tới 40%. PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn, trưởng phòng C4, Viện Tim mạch, Bệnh viện  Bạch Mai cho biết, rối loạn mỡ máu (hay còn gọi là rối loạn lipit máu, tăng cholesterol) là bệnh khá phổ biến, đặc biệt khi đời sống càng phát triển. Mỗi ngày cơ thể con người chế tạo ra trên dưới 1g cholesterol.

Cholesterol là một phần quan trọng của cơ thể, được sử dụng trong cấu tạo của màng tế bào, của một số hormon và một mệnh danh thiếp công dụng khác trong cơ thể. Rối loạn mỡ máu, là hậu quả của béo phì và nguy cơ tương đương với tăng huyết áp, là nguyên do quy hàng đầu của nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Ở thành phố, chúng mình ít vận động, ăn uống quá dư dả chất đạm, chất mỡ và những đồ ăn nhanh… thế thành thử việc số mệnh người thành thị bị rối loạn mỡ máu hơn người nông thôn là đương nhiên.

ThS. BS. Phan Hướng Dương, phó trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nội tiết TƯ chia sẻ, để phòng tránh thì việc đầu tiên và quan trọng nhất là chế độ ăn uống để giảm cân và luyện tập một cách khoa học. Giảm cân phải từ từ, khuyến cáo giảm không quá 1 – 1,5kg/tháng để tránh cơ thể bị sốc. Để đạt được điều động này, cần ăn giảm khoảng 250kcal/ngày (người bình phẩm thường ăn khoảng 1.000 – 1.500kcal). Giảm ăn danh thiếp loại thịt, cá xuống còn 150 – 200g/ngày, ăn không quá 3 quả trứng/tuần và phải ăn cách ngày, tăng cường vận động để đốt cháy 250kcal/ngày thời hạn chế danh thiếp chất chứa chất béo và cholesterol như bơ, thuốc mọc tóc thịt lợn mỡ xông khói, thay bằng dù rằng thực đấu vật như dù ôliu, đậu nành…

Chú ý ăn nhiều rau xanh, hoa quả như bưởi, táo và dùng nước lọc, thuốc cường dương trà xanh sẽ tốt hơn danh thiếp nước hoa quả, nước có ga. Việc luyện tập cũng rất quan trọng. Cần rèn sức bền với các bài tập đi bộ nhanh, chạy, đạp xe, đi bộ 50 – 60 phút/ngày vào buổi sáng và chiều tối trước khi ăn cơm.

Biến chứng sau nhồi máu cơ tim

Biến chứng sớm

  • Suy tim: Thường gặp trong 2 tuần đầu, nhất là trên những bệnh nhân dịp đã bị NMCT cũ, huyễn hoặc trên những người bị trạng thái nặng, rộng, có cơn đau kéo dài.
  • Trụy mạch thể hiện bằng huyết áp tụt, mạch nhanh, yếu, vã mồ hôi.
  • Suy tim trái cấp tính chất bộc lộ bằng cơn khó thở kịch phát, phù phổi cấp, mạch nhanh, tiếng ngựa phi.
  • Rối loạn nhịp tim: Nhịp nhanh xoang hay gặp. Nếu nhanh nhiều và kéo dài thì tiên lượng xấu.
  • Ngoại tâm thu hay gặp, nhất là khi NMCT mới bắt đầu. Ngoại tâm thu nhiều, đa dạng có tiên lượng xấu.
  • Cơn nhịp nhanh kịch phát ít gặp hơn nhưng rất nguy hiểm bởi chưng có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng, đặc biệt với cơn nhịp nhanh thất. Thường xảy ra trong NMCT nặng trạng thái lan rộng. Loạn nhịp hoàn toàn gặp trong 10 – 15% trường hợp.
  • Rối loạn dẫn truyền nhĩ – thất gặp trong 4% trường hợp nhất là trong NMCT sau. Thường xuất hiện sớm. Blốc nhĩ thất hoàn toàn thường nặng.
  • Tai biến ách tắc mạch: Gặp trong 20 – 40% trường học hợp, đặc biệt trong các trạng thái nặng. Chủ yếu là:
  • Tăng cục nghẽn mạch vành dẫn đến NMCT (diện điển tích lớn hơn). Cục nghẽn mạch tạo thành ở trong tim: thường gặp trong NMCT lan rộng xuyên qua thành tim kèm cặp theo suy tim. Tắc động mạch phổi thường là kết quả của tai biến ách tắc tĩnh mạch chi dưới huyễn hoặc nghẽn mạch buồng tim phải.
  • Vỡ tim: Gặp trong 5 – 10% trường hợp, xảy ra cốt tử tuần thứ hai. Thường gặp ở thất trái dẫn đến tràn máu màng ngoài tim làm tắt nghỉ đột ngột huyễn hoặc chết nhanh chóng bởi trụy tim mạch. Vỡ vách liên thất biểu hiện văn bằng một tiếng thổi tâm thu ở giữa tim, có cường độ mạnh, kèm theo rung mui và suy tim phải cấp tính chất dẫn đến trụy mạch.
  • Đứt kìm giữ tim (ít gặp): khi bộ van nài hai lá bị vỡ sẽ gây ra tổn thương xót van lơn hai lá nặng không hồi phục.
  • Chết đột ngột: Gặp trong 10% trường hợp. Thường là hậu quả của những trạng thái nặng, nhất là ở tuần lễ đầu. Nguyên nhân chết đột ngột có thể bởi cơn nhịp nhanh thất, rung thất, tắc mạch phổi lớn, vỡ tim, trụy mạch nặng.

Biến chứng thứ phát

Hội chứng Dressler gặp từ 3 – 4% trường hợp, xuất hiện từ 1 – 4 tuần sau khi bệnh khởi phát. Biểu hiện lâm sàng là hội chứng viêm màng ngoài tim: đau sau xương ức, đau tăng lên khi thở sâu, khi ho, khi vận động, giảm bớt khi ngồi mê hoặc cúi về đằng trước. Nghe có trạng thái phát hiện tiếng cọ màng ngoài tim. Tràn dịch màng phổi, thâm nhiễm phổi. Chụp Xquang lồng ngực: hình ảnh tràn dịch tơ màng ngoài tim và màng phổi. Điện tâm đồ: không có dấu hiệu hoại tử lan rộng và tái phát (dùng để chẩn đoán phân biệt với NMCT). Xét nghiệm máu: bạch huyết cầu tăng, đa nhân dịp trung tính chất tăng, tốc độ máu lắng tăng. Điều trị văn bằng cocticoid có thể khỏi nhanh hơn. Tuy nhiên hội chứng dễ tái phát và khi tái phát nhiều sẽ trở cho nên rất phiền phức cho người bệnh.

Biến chứng muộn

Các chứng đau:

Những người có đồng cân căn đau thắt ngực, tiền căn NMCT, những người có nguy cơ nhiều về NMCT (như xơ vữa mạch vành, bị nhiều cơn tăng huyết áp, đái tháo đường, mập phì, rối loạn lipid máu, nghiện thuốc lá) nếu chớm có triệu chứng là phải xử lý bất động, giảm đau ngay và chuyển ngay bệnh nhân dịp đến bệnh viện bằng xe chuyên dụng cấp cứu tim mạch. Có như thế mới hạn chế được các biến chứng và tử vong bởi NMCT. - Đau thần kinh nhạy cảm: Là danh thiếp cơn đau ngực lan tỏa, cường độ trung bình, giống như cảm giác đau ê ẩm, nặng nề ở vùng trước tim. Những người có chứng đau này thường là những người hay lo lắng, song song bị suy nhược về trạng thái lực và tâm thần. Liệu pháp tâm lý và các thuốc trấn tĩnh thường có trạng thái áp giải quyết được. - Đau kiểu thấp khớp: Thường gọi là viêm quanh khớp vai cánh tay, hội chứng vai – bàn tay, hay gặp ở vai và tay trái. Đôi khi chữa văn bằng danh thiếp thuốc giảm đau bình thường cũng khỏi. Một số trường học hợp phải dùng cocticoid. Tránh tiêm thuốc vào trong khớp nhất là khi bệnh nhân dịp đang sử dụng thuốc chống đông.

Trong một số mệnh trường hợp NMCT thoái triển có thể gặp xơ cứng cân gân tay, co rút và có trạng thái dẫn đến Dupuytren. - Chứng đau thắt ngực sau NMCT: khi có dấu hiệu NMCT tái phát, phải điều động trị như NMCT cấp.

Phồng vách tim: Là hậu quả xa của nhồi máu xuyên thành tim. Biểu hiện: nghe tim có tiếng đập phụ ở thì tâm thu, trên mỏm tim. Xquang thấy hình ảnh một cung giãn nở thì tâm thu, cốt ở bờ trái. Điện tâm đồ: có sự tồn tại của dấu hiệu "tổn thương", đồng thời với dấu hiệu hoại tử. Theo dinh dưỡng

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
Top